seotime tokten-vn.org.vn nci avolution

Cây lựu
Tên khoa học là: Punica granatum L.
Thuộc họ Lựu – Punicaceae.

Đặc điểm thực vật:

cây lựu

Lựu là loại cây thân gỗ, cao khoảng 3 – 4 m, cây nhỏ, cành, mềm, có thể có gai.
Lá lựu dài, nhỏ,mép lá nguyên, cuống lá ngắn, lá mọc đối hoặc so le.
Hoa 5 cánh màu đỏ, giống hình cái loa; có thứ hoa hoa màu trắng, mọc riêng hoặc thành xim; cuống hoa ngắn. Đế hoa hình chuông, mang lá đài đỏ, đầu tiên mọc đứng rồi xoè sang 2 bên sau khi hoa nở.
Quả hình cầu, to bằng quả cam; ở đầu quả vẫn còn lá đài tồn tại (4 -5 lá). Vỏ quả dày, lúc chín có màu vàng đỏ, lốm đốm. Trong quả được chia làm 8 ngăn, xếp làm 2 tầng; tầng dưới 3 ngăn, tầng trên 5 ngăn, các ngăn cách nhau bởi lớp màng mỏng. Hạt hình 5 cạnh, có màu trắng hồng.

Phân bố, trồng trọt:

Cây có nguồn gốc ở các nước khu vực nam Á, đặc biệt là những nước có khí hậu ấm.
Cây được trồng để lấy quả hoặc để làm cảnh.
Cách trồng: giâm cành.

Thu hái:

Vỏ quả lấy vào mùa hè; vỏ thân, vỏ rễ lấy quanh năm.

Bộ phận dùng:

Quả để ăn.
Vỏ rễ, vỏ thân,vỏ quả.

Chế biến:

Vỏ rễ: lấy rễ về rửa sạch, bóc lấy vỏ rồi đem phơi hay sấy khô.
Vỏ thân lựu : bóc lấy vỏ, rồi đem phơi hoặc sấy khô.
Vỏ quả: bỏ lớp màng bên trong, thái mỏng rồi đem phơi khô.

Thành phần hoá học:

Tanin,triterpen tự do các chất sterin, acid ursolic, acid betulic, beta sitosterin.
Vỏ thân, vỏ rễ, cành lựu chứa alcaloid.

Tác dụng, công dụng:

Tanin làm săn da và sát khuẩn mạnh.
Muối isopelletierin giúp tẩy sán, làm co mạch, tăng huyết áp.
Nước sắc vỏ quả pha loãng trong ống nghiệm với nồng độ 1/2560 gây ức chế vi khuẩn Bacillus diphtheriae, ở nồng độ 1/1280 ức chế cầu khuẩn, ức chế vi khuẩn lỵ Bacillus dysenteriae và vi khuẩn biến hình.
Vỏ rễ, vỏ thân cây lựu được dùng làm thuốc chữa sán.
Chú ý: phụ nữ có thai và trẻ em không nên dùng.
Lấy vỏ mới đào về sẽ chứa nhiều Alcaloid tác dụng mạnh, người ta cho rằng, vỏ khô thuốc ít hiệu quả.
Dạng dùng thuốc sắc, từ 20 -60 g.
Nước sắc vỏ rễ và vỏ thân ngậm miệng để chữa đau răng.
Nước sắc vở quả,giúp chữa lỵ, kinh nguyệt ra nhiều.

Cây ô đầu
Có nhiều loại ô đầu khác nhau như ô đầu Việt Nam, Âu ô đầu, ô đầu Trung Quốc.

Đặc điểm thực vật:

cây ô đầu

Ô đầu là loại cây cỏ, sống hàng năm, cao từ 60 – 100 cm. Rễ cây phát triển thành củ có hình nón;thân cây mọc thẳng đứng, ít phân nhánh. Lá mọc so le, tuỳ loài mà hình dáng và kích thước của lá có khác nhau.
Cây âu ô đầu có lá xẻ chân vịt giống lá ngải cứu; mặt trên lá xanh thẫm, mặt dưới lá nhạt hơn.
Ô đầu Trung Quốc có phiến lá rộng, lá xẻ 3 thuỳ. Hai thuỳ bên tiếp tục xẻ thành 2 thuỳ con, thuỳ giữa xẻ thành 3 thuỳ con; mép thuỳ có khía răng cưa nhọn.
Hoa moch thành chùm ở ngọn thân, có màu xanh thẫm hay xanh tím. Quả đại.

Phân bố:

Ô đầu Việt Nam mọc hoang hoặc được trồng ở các tỉnh vùng núi cao như Hà Giang, Lào Cai.
Ô đầu Trung Quốc mọc hoang hoặc được trồng ở Trung Quốc. Cây được trồng nơi có khí hậu lạnh ẩm, đất dễ thoát nước, cây thích hợp trồng ở nơi đât mùn hay đất cát.

Trồng trọt:

Cây được trồng bằng hạt hay các củ con.

Thu hoạch:

Sau khi cây được 1- 2 năm tuổi, đào lấy củ, củ to làm thuốc, củ con để trồng; củ đào về đem cắt bỏ rễ con, rửa sạch đất, sau đó đem phơi hay sấy khô.
Dược liệu:
Tuỳ theo cách chế phụ tử mà có các vị khác nhau.
Gồm:
– Sinh phụ tử ( phụ tử muối ) hay diêm phụ.
– Hắc phụ tử hay hắc phụ.
– Bạch phụ tử hay bạch phụ.

Bộ phận dùng:

Củ mẹ, củ con ( phụ tử ).
Phụ tử có hình con quay, phần trên to, có vết nối của củ mẹ, không có dấu vết của thân cây, củ nhỏ dần về phía dưới. Củ có màu nâu đen, có nhiều nếp nhăn dọc, có 1 số nhánh rễ lồi lên.
Củ cứng chắc, khó bẻ, mặt cắt ngang có màu nâu xám.

Thành phần hoá học:

Các alcaloid gồm: aconitin, aconin, bezoyl aconin, napellin, neopellin, magnoflorin, hypaconitin,…

Công dụng:

Ô đầu, phụ tử khi chưa chế biến được dùng làm cồn xoa bóp bên ngoài trong trường hợp đau nhức chân tay, bong gân.
Cũng có thể dùng để giảm đau trong các bệnh đau dây thần kinh sinh ba, viêm thanh quản, phế quản, ho.
Tuy nhiên, do thành phần hoạt chất có chứa aconitin là 1 chất rất độc nên khi dùng thuốc cần hết sức thận trọng.
Trong y học dân tộc, phụ tử chế, hắc phụ, bạch phụ là thuốc hồi dương cứu nghịch, khử phong hàn, dùng trong các trường hợp cấp tính trụỵ mạch, ra nhiều mồ hôi, chân tay giá lạnh. Dạng thuốc sắc từ 4 – 12 g/ ngày, có thể phối hợp với vị thuốc khác tuỳ theo kinh nghiệm.

Hoạt chất : Metformin Rosiglitazon 
Đái tháo đường type II đang điều trị kết hợp Rosiglitazon và Metfomin hoặc đơn trị liệu Metfomin không hiệu quả

THÀNH PHẦN
Mỗi viên 2 mg/ 500 mg:
Metformin HCl 500 mg,
Rosiglitazon 2 mg
CÔNG DỤNG, CHỈ ĐỊNH
Avandamet 2mg/500mg trị Đái tháo đường type II đang điều trị kết hợp Rosiglitazon và Metfomin hoặc đơn trị liệu Metfomin không hiệu quả
CÁCH DÙNG-LIỀU DÙNG
Nên chọn liều Avahasan dựa trên liều của Rosiglitazone hoặc Metformin mà bệnh nhân đang sử dụng
Liều Avahasan cho mỗi bệnh nhân tiểu đường nên được cụ thể, nhưng không vượt quá liều tối đa mỗi ngày là 8 mg theo Rosiglitazone hoặc 2000 mg theo Metformin
Avahasan nên được chia nhỏ thành nhiều liều, uống vào bữa ăn và chỉ tăng liều dần dần
Đối với những bệnh nhân dùng đơn trị liệu bằng Metformin không hiệu quả: Liều khởi đầu thông thường của Avahasan là 4 mg Rosiglitazone (tổng liều mỗi ngày)
Đối với những bệnh nhân dùng đơn trị liệu bằng Rosiglitazone không hiệu quả: Liều khởi đầu thông thường của Avahasan là 1000 mg Metformin (tổng liều mỗi ngày)
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Mẫn cảm với bất cứ thành phần nào của thuốc.
Bệnh thận hoặc rối loạn chức năng thận, có thể do các nguyên nhân như trụy tim mạch, nhồi máu cơ tim và nhiễm trùng máu
Suy tim sung huyết
Nhiễm toan chuyển hóa cấp hoặc mãn tính bao gồm nhiễm keto-acid trong bệnh đái tháo đường có hoặc không có hôn mê. Nên điều trị insulin đối với bệnh nhân đái tháo đường bị nhiễm keto-acid
Nên ngưng điều trị tạm thời Avahasan ở những bệnh nhân chiếu chụp tia X-quang có tiêm tĩnh mạch các chất cản quang chứa iod
QUI CÁCH ĐÓNG GÓI
1 vỉ x 14 viên
NHÀ SẢN XUẤT
Hasan-Dermapharm

 

↑このページのトップヘ